kênh sao

Hai chị em ruột và chuyện tình rơi nước mắt với một người đàn ông

Tò mò với nội dung truyện ngắn về mối tình tưởng như chỉ có trong cổ tích của nhà nghiên cứu Đặng Hùng, tôi đã tìm về quê lúa Thái Bình.

Kỳ 1: Hạnh phúc bất ngờ với người đàn ông bất hạnh

Mới đây, về Thái Bình, trong cuộc trà với nhà nghiên cứu sử Đặng Hùng, ông hào hứng kể về một truyện ngắn cực kỳ nhân văn sắp ra đời, mà các nhân vật trong cốt truyện đều thật một trăm phần trăm. 

Tò mò với những nhân vật trong truyện, tựa như chuyện cổ tích, tôi đã tìm về xã Đông Quang (Đông Hưng, Thái Bình).

Theo sự chỉ đường của người dân, tôi tìm vào một ngôi nhà nhỏ, lúp xúp, chẳng có cổng rả gì. Vừa cất tiếng gọi, một cô gái có mái tóc như đàn ông, mặc áo phông, quần ống cao ống thấp thò đầu ra, cười toe toét, rồi xông đến véo má, xoa đầu tôi. 

Người đàn ông đeo kính đen, lò dò bậc cửa kêu lớn: “Điệp! Đừng trêu khách nữa con. Mời khách vào nhà đi”. Cô nàng cười khanh khách rồi chạy tót đi chơi.
 

Ông Trần Văn Thuận và em vợ, cũng là vợ của ông 

Ông Trần Văn Thuận và em vợ, cũng là vợ của ông 

Hỏi chuyện cuộc đời, ông Trần Văn Thuận lần mò bàn thờ, đốt nhang, lầm rầm khấn vái trước di ảnh vợ. Di ảnh khuôn mặt người đàn bà toát lên vẻ nhân hậu. 

Vái xong, ông Thuận bảo, vợ ông đã mất hơn chục năm rồi, song không lúc nào ông nguôi thương nhớ. Người vợ nhân hậu ấy, lẽ ra phải được hưởng cuộc sống hạnh phúc, nhưng vì nặng nợ tình duyên, nên cuộc đời bà là bể khổ.

Ông Trần Văn Thuận sinh năm 1948, trong một gia đình nghèo khó. Phía bên kia dậu mùng tơi, có cô gái cũng con nhà nghèo. Hai đứa gắn bó từ nhỏ, chăn trâu, cắt cỏ, tắm sông cùng nhau, cứ như anh em ruột thịt. 

Năm Thuận 18 tuổi, theo phong trào sôi sục, anh đăng ký vào chiến trường. Ở bên nhau, chơi với nhau như anh em, nhưng lúc biết anh Thuận sắp dấn thân vào nơi lửa đạn, trái tim cô hàng xóm Vũ Thanh Rần như rỉ máu. 

Ngày vào Nam đến gần, rất tự nhiên, trong đêm trăng vằng vặc, hai đứa cầm tay nhau, rồi thề non hẹn biển. Cha mẹ mang lễ ăn hỏi sang nhà hàng xóm hôm trước, hôm sau Thuận từ biệt người vợ chưa cưới để lên đường.

Anh được điều động vào đơn vị C71, D25, Đoàn 559, rồi vào chiến trường phía Nam Quảng Trị, nơi khốc liệt nhất thời bấy giờ. 

Nhiều năm trời làm lính trinh sát, ngang dọc dải miền Trung, Thuận đã chứng kiến không biết bao nhiêu đồng đội đã tưới máu cho mảnh đất xác xơ bởi bom đạn cày xới. 

Rồi cái ngày định mệnh cũng đến với anh vào một ngày cuối năm 1971, khi cùng 2 đồng đội đi làm nhiệm vụ ở khu vực Đường 9 - Nam Lào. Họ đã bị trúng mìn. 
 

Anh Trần Văn Tộ, con trai ông Thuận với người vợ cả 

Anh Trần Văn Tộ, con trai ông Thuận với người vợ cả 

Không rõ hai đồng đội còn sống hay đã chết, nhưng lúc anh tỉnh dậy, chẳng rõ trời đất. Sờ lên mặt, thấy vải quấn kín mít. Bác sĩ bảo, anh bị mảnh bom găm chi chít vào mặt, trúng cả hai mắt, nên phải múc hai mắt đi. Thế là mù vĩnh viễn.

Từ đó, cuộc sống của anh gắn với các trung tâm điều dưỡng, chăm sóc thương binh, từ Nghệ An, ra Thanh Hóa, Bệnh viện 108, CT4, cuối cùng là Trung tâm An dưỡng Hà Bắc. 

Sợ phải đối diện với gia đình và đặc biệt là cô hàng xóm mà anh đã thề non hẹn biển, nên anh ở lỳ tại Trung tâm An dưỡng Hà Bắc. Thế nhưng, một ngày, khi đang ngồi hóng mát dưới gốc cây, anh chợt nghe thấy tiếng khóc thút thít, rồi thành nức nở. Người thương binh mù nằm trọn trong vòng tay một người con gái. 

Anh rụng rời tay chân khi nhận ra đó là người vợ chưa cưới nơi quê nhà. Nhận được tin từ đồng đội, chị Rần đã lần theo các trại an dưỡng, rồi tìm thấy anh ở Hà Bắc.

Anh em thương binh, cán bộ trung tâm đều chúc mừng chàng thương binh mù có một cô người yêu xinh xắn, nhân hậu. Thế nhưng, anh Thuận lại quay lưng lại người con gái. Anh nói dứt khoát: “Anh nghĩ kỹ rồi, anh từ hôn em. Em hãy đi lấy người khác cho đỡ khổ”. 

Thấy chị Rần kiên quyết, anh Thuận đành bảo: “Vậy em cứ về đi, suy nghĩ cho kỹ”. 

Vài hôm sau, lại thấy chị Rần có mặt ở Trung tâm An dưỡng Hà Bắc. Nắm tay anh, chị bảo: “Em nghĩ kỹ rồi, trước thế nào, sau vẫn thế, em coi anh là chồng từ ngày anh ngỏ lời với em rồi. Gia đình em cũng ủng hộ em, không ai ngăn cản gì cả”. Thế là, chàng thương binh mù lên xe về Thái Bình cùng cô giáo mầm non Vũ Thanh Rần.
 

Gia đình ông Trần Văn Thuận 

Gia đình ông Trần Văn Thuận 

Đám cưới thời chiến, của hai con người nghèo khó diễn ra đạm bạc, nhưng ấm tình làng xóm, đồng đội. Có nhiều nước mắt trong đám cưới ấy. Cô dâu xinh tươi rạng rỡ, chú rể chống nạng đi lại nhấp nhổm, đeo kính râm ôm sát đôi mắt. 

Cưới nhau năm 1972, thì năm 1973 sinh người con đầu lòng, đặt tên Trần Văn Thơi. Vợ chồng đã khóc hết nước mắt khi sinh ra đứa con dị dạng, tóc tai, da thịt trắng toát. Được 1 năm tuổi thì bé Thơi ra đi mãi mãi. 

Năm 1975, cậu con trai Trần Văn Tộ ra đời, cũng trắng toát như anh, chỉ khác là có mái tóc vàng chóe, đôi mắt lồi xanh biếc như Tây, lông lá phủ kín người như khỉ. Tộ bị bạch tạng. 

Tộ lớn nhanh như thổi, to lừng lững, tới hơn 1,8m. Thế nhưng, chưa đến 30 tuổi, đã già như một ông lão. Giờ hai bố con đứng bên nhau, không trông kỹ, không biết ai nhiều tuổi hơn ai nữa.

Biết rằng mình đã bị nhiễm chất độc da cam trong những ngày chiến đấu ở vùng Quảng Trị, nhưng hai vợ chồng vẫn thử vận may. Rồi tiếp tục hai người con nữa ra đời trong nỗi thấp thỏm lo âu. 

May mắn là cậu con trai tiếp theo Trần Văn Tiện, sinh năm 1980, phát triển bình thường, chưa thấy có biểu hiện nhiễm chất độc da cam. Tuy nhiên, cô con gái thứ tư tên Điệp thì bị bệnh rất nặng. 27 tuổi rồi, Điệp vẫn lơ ngơ như một đứa trẻ, cười nói khanh khách cả ngày. 

Thi thoảng Điệp lại trợn mắt, ngã lăn xuống đất, giãy đành đạch, sùi bọt mép. Vừa điên điên dở dở, lại mắc chứng động kinh, nên khỏi phải nói, người mẹ vất vả thế nào. 

Vừa làm công việc của một giáo viên mầm non với mức lương ba cọc ba đồng, bà Rần vừa phải làm mọi công việc đồng áng, rồi làm thuê làm mướn kiếm thóc gạo, rau dưa nuôi 5 miệng ăn. 

Ông Thuận mù lòa, sức khỏe yếu, nên không làm được gì, chỉ ở nhà ôm con đợi vợ. Cuộc sống vất vả, rau cháo, tràn ngập bi kịch, nhưng cũng tràn đầy hạnh phúc, yêu thương. 

Đến lúc đồng lương thương binh của chồng, lương giáo viên của vợ khấm khá một chút, đàn con đã lớn, làm được nhiều việc thay cha mẹ, miếng ăn bớt nhọc nhằn, thì bà Rần phát hiện ra mình bị ung thư não giai đoạn cuối. 

Người con thứ đưa mẹ lên bệnh viện trên Hà Nội. Sau khi làm các xét nghiệm cần thiết, bệnh viện bảo đưa mẹ về… chờ chết. Hồi đó là năm 2003.

Kỳ 2 (Kỳ cuối): Nhường chồng cho em gái

Ngày nằm trên giường chờ tử thần mang tên “K não” đưa đi, bà Vũ Thanh Rần chợt nhớ đến cô em út tên Vũ Thanh Xuân. Khi đó, bà Xuân đang ở Điện Biên. 

Cuộc sống của bà Xuân cũng khốn khó, nên bao năm rồi, chị em chẳng gặp lại nhau. Rời quê từ năm 18 tuổi, lên Điện Biên theo tiếng gọi khai hoang, rồi làm việc ở nông trường trồng mía. Gắn bó với nông trường, lấy được tấm chồng, sinh được một cô con gái, thì chồng chết vì tai nạn giao thông. Số phận bà Xuân cũng cực kỳ éo le. 

Ngày sắp ra đi, bà Rần nắm tay em gái dặn dò: “Các cụ có câu sảy cha theo chú, sảy mẹ bú dì. Chị cũng không sống được mấy ngày nữa. Chị em mình chẳng phải Thúy Kiều, Thúy Vân, nhưng thương chị, em cứ coi anh ấy như Kim Trọng. Chị mất thì em dọn về, thay chị chăm sóc anh ấy và các cháu. Chị có chết, cũng nhắm được mắt”. 

Dặn dò em gái xong, dặn dò chồng con kỹ lưỡng rằng phải đối tốt với em gái, rồi bà Rần ra đi mãi mãi. 

Suốt mấy năm trời, thương xót người vợ, ông Thuận sa sút hẳn đi. Ông khóc nhiều, không còn mắt, không có tuyến lệ, nên không có nước mắt, chỉ thấy máu tươi rỏ ra ở hốc mắt. 

Bà Xuân trước di ảnh chị 

Bà Xuân trước di ảnh chị 

Ông bảo: “Ngày đó, tôi đã mủi lòng để bà Rần lấy tôi. Tôi thấy mình ích kỷ quá. Dù tôi có đổ bao nhiêu máu xương ở chiến trường, thì sự hy sinh đó cũng chưa thấm vào đâu so với một đời lam lũ của bà ấy. Giờ tôi lại bắt người đàn bà nữa hy sinh vì tôi. Tôi chả biết phải làm thế nào. Tôi chỉ mong chết sớm để gặp bà Rần. Nhưng còn mấy đứa con…”.

Nghe lời trối trăng của người chị gái, bà Xuân ở lại chăm sóc anh rể và đàn con. Thể theo nguyện vọng của bà Rần, cũng như của toàn thể gia đình hai bên, bà Xuân và ông Thuận đã làm vài mâm cơm, báo cáo gia đình, tổ tiên để được làm vợ làm chồng. 

Sự gắn kết của họ là bởi hai chữ trách nhiệm và tình thương, còn cái gọi là tình yêu thì chẳng biết thế nào nữa. Câu chuyện của họ, đã lấy đi bao nước mắt cảm thương của xóm làng. Chẳng ai nghĩ rằng, đó là chuyện tranh chồng đoạt vợ, mà đó là câu chuyện về tình thương, lòng nhân ái, nó vượt xa ý nghĩa nhân văn đơn thuần của cái gọi là tình yêu nam nữ rất nhiều.

Đang một mình nuôi một đứa con, dù không nhàn hạ, song cũng không đầu tắt mặt tối. Từ ngày về chăm anh rể, rồi làm mẹ của mấy đứa cháu, bà Xuân lại lặn lội thân cò như chị, lúc nào cũng chân lấm, tay bùn, quần xắn móng lợn, áo vá tả tơi. 

Bà Xuân thay mẹ chăm sóc em Điệp 

Bà Xuân thay mẹ chăm sóc em Điệp 

Bản tính tháo vát, chăm chỉ, nên bà Xuân cắt đặt công việc đâu ra đấy. Nhà chỉ có 4 sào ruộng, bà nhận thầu thêm 7 sào nữa. Mỗi mình cấy gặt hơn mẫu ruộng. Mỗi vụ, mỗi sào, phải trả cho người ta 50 đến 100kg tùy loại ruộng xấu, tốt. 

Mặc dù thu hoạch chả được bao nhiêu thóc, nhưng vẫn phải làm mới có được miếng ăn. Thời gian rỗi rãi, bà đi làm thuê, làm mướn. Ai thuê việc gì cũng làm, kể cả phu hồ, bốc vác. 

Dọc mép con đường làng, những luống rau bé xíu xanh mơn mởn đều là của bà Xuân. Có chỗ đất trống nào, bà cũng gieo hạt để có rau ăn, thừa thì đem bán, đổi mớ tép, miếng đậu.

Điều kỳ diệu là câu chuyện đặc biệt của bà, đã làm cô thôn nữ Nguyễn Thị Tâm trong xóm cảm động, coi đó là tấm gương sáng ngời về đạo lý. 

Vợ chồng anh Trần Văn Tộ 

Vợ chồng anh Trần Văn Tộ 

Chị Tâm thường xuyên cấy gặt đỡ đần giúp bà Xuân. Rồi những buổi tâm tình, đã khiến chị Tâm có một quyết định bất ngờ: tình nguyện làm vợ anh Tộ, chàng trai bị nhiễm chất độc da cam. 

30 tuổi đầu, chị Tâm vẫn lận đận tình duyên, dù tuổi thanh xuân đã có vài mối tình dang dở. Lấy chàng trai nhiễm chất độc da cam, gia đình phản đối ghê lắm. Nhưng chị vẫn quyết tâm gắn đời mình với anh chàng “rất tồ, rất ngố, nhưng rất ngộ”. Chị đã chấp nhận tất cả, bởi trái tim chị, đã được trái tim bà Xuân soi đường, chỉ lối.

Ông trời không cướp đi của ai tất cả. Câu chuyện tình cảm động đến thương tâm đã đơm hoa kết trái khi một cậu bé ra đời và hoàn toàn khỏe mạnh, bình thường, lại ngoan ngoãn, học giỏi. 

Cậu con thứ Trần Văn Tiện của ông Thuận cũng được người dì, kiêm mẹ, dẫn vào tận Nghệ An hỏi vợ. 

Gia đình cô công nhân Vũ Thị Nghĩa lúc đầu cũng phản đối ghê lắm. Ai biết được, cái thứ chất độc chết người kia không thức dậy vào một thế hệ nào đó. 

Hiểu lòng nhà gái, trong buổi mang trầu, bà Xuân không nói những lời khách sáo, đầy đủ ý nghĩa, đúng như phong tục, mà bà kể về cuộc đời ông Thuận, cuộc đời người chị gái và tiếp đó là cuộc đời bà. 

Ông Thuận và bà Xuân 

Ông Thuận và bà Xuân 

Nghe xong câu chuyện về cái gia đình bi thương ở Thái Bình đó, về những con người đã phải trả giá rất đắt cho sự hòa bình của đất nước, những người lớn tuổi, đã trả qua cuộc chiến tranh khốc liệt, đều im lặng, gật đầu. 

Và họ, đã hiểu rằng, dù có hy sinh cô con gái, để phần nào làm dịu bớt cuộc chiến tranh vẫn dai dẳng trong gia đình đó, cũng là điều tốt đẹp nên làm.

Và giờ, hai vợ chồng Tiện cũng đã hạnh phúc trong một ngôi nhà nhỏ, với đứa con hoàn toàn bình thường, ngay cạnh ngôi nhà cũng nho nhỏ của anh Tộ. 

Sau hai ngôi nhà của hai anh em, là ngôi nhà cấp 4 xập xệ, nơi ở của ông Thuận, bà Xuân, em Điệp và cô con riêng đang tuổi mới lớn của bà Xuân. 

Còn cô cháu gái Vũ Thị Điệp nữa, bà Xuân xác định phải chăm lo suốt đời, từ ăn uống, giặt giũ, đến… thay băng vệ sinh. 

ĐỪNG BỎ QUA

Loading...

CÙNG CHUYÊN MỤC

Loading...